Chum, vại, lu là những đồ sành, đồ gốm lớn mà nhà người Việt xưa dùng để chứa nước mưa, nước giếng, ủ tương, muối dưa, đựng gạo. Cùng với giếng khơi và bể nước mưa, chúng làm nên cả một hệ thống trữ nước trong nhà trước khi có nước máy, và mỗi vùng có một kiểu riêng: chum sành ở Bắc Bộ, lu da bò và khạp ở miền Nam.
Câu tục ngữ "Uống nước nhớ nguồn" có lẽ chưa bao giờ cụ thể như thế: nước là thứ phải đi gánh, phải hứng, phải để dành từng chum.
Chum, vại, lu, khạp khác nhau thế nào
| Tên | Hình dáng | Dùng nhiều để | Vùng hay gọi |
|---|---|---|---|
| Chum | To, bụng phình, miệng nhỏ hơn bụng | Chứa nước mưa, đựng thóc gạo, ủ tương | Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ |
| Vại | Thân thẳng hơn, miệng rộng | Muối dưa, muối cà, đựng nước dùng hằng ngày | Bắc Bộ |
| Lu | To, bụng tròn, thường men nâu hoặc da bò | Chứa nước mưa, nước sông lọc phèn | Nam Bộ, Nam Trung Bộ |
| Khạp | Nhỏ hơn lu, có nắp | Đựng gạo, mắm, muối | Nam Bộ |
Ranh giới giữa các tên không cứng nhắc: cùng một món đồ, nơi này gọi chum, nơi kia gọi lu. Điều chắc chắn là đồ đựng lớn bằng sành là thứ không thể thiếu trong nhà nông.
Những làng làm chum vại nổi tiếng
Đồ sành miền Bắc gắn với các làng gốm lâu đời. Phù Lãng (Bắc Ninh) nổi tiếng với gốm men da lươn, làm chum, vại, chậu, tiểu sành. Hương Canh (Vĩnh Phúc cũ, nay thuộc Phú Thọ) có chum vại sành nâu đỏ được nhiều người cho là đựng tương, đựng nước rất tốt. Thổ Hà (Bắc Giang cũ) một thời làm chum vại cung cấp cho cả vùng.
Ở miền Nam, lu và khạp gắn với vùng gốm Biên Hoà, Lái Thiêu và Lò gốm Sài Gòn (Chợ Lớn). Lu "da bò" màu nâu vàng loang được làm số lượng lớn, chở bằng ghe đi khắp miền Tây.
Giếng khơi và bể nước mưa
Giếng khơi của làng
Giếng khơi là giếng đào sâu, thành xây gạch hoặc đá ong, miệng tròn. Mỗi xóm thường có một giếng chung, có khi là giếng làng đặt ở đầu đình. Người ta dùng gàu mo cau, gàu tôn buộc dây thừng hoặc dây sắn để kéo nước; giếng nào sâu thì có cần vọt tre làm đòn bẩy. Buổi sáng, buổi chiều, giếng là nơi các bà, các chị gặp nhau, gánh nước, giặt giũ, chuyện trò.
Bể nước mưa và tàu cau
Nước giếng ở nhiều vùng đồng bằng Bắc Bộ bị phèn hoặc nhiễm mặn, không ngon để nấu ăn. Vì thế nước mưa được quý nhất. Nhà khá giả xây bể nước mưa bằng gạch quét vữa, hứng nước từ mái ngói qua máng. Nhà nghèo hơn dùng chum, hứng nước từ một tàu cau buộc vào thân cau, nước chảy theo bẹ xuống miệng chum. Nước mưa hứng lúc đầu trận thường bỏ đi vì còn bụi mái.
Lắng phèn ở miền Tây
Ở đồng bằng sông Cửu Long, nước sông là nguồn chính. Người ta gánh nước sông đổ vào lu, rồi cầm một cục phèn chua khuấy vài vòng. Phèn làm bùn đất kết lại, lắng xuống đáy, sau vài giờ nước trong. Lu nước lắng phèn đặt ở bến sông sau nhà hoặc dưới mái hiên, có gáo dừa úp trên nắp.
Cách lọc này làm trong nước nhưng không diệt được vi khuẩn. Người xưa vẫn phải đun sôi nước trước khi uống — lời dặn mà đến nay vẫn đúng với mọi nguồn nước không qua xử lý.
Chum vại trong bếp và trong kho
Chum không chỉ chứa nước. Chum sành dày, kín, mát nên được dùng đựng thóc giống, đựng gạo cho khỏi mọt, ủ tương bần, tương Cự Đà. Vại thì gắn với dưa cải, cà pháo muối của mọi gia đình. Có nhà đặt một chum gạo nhỏ ở góc buồng, câu chuyện "nhìn chum gạo vơi" là cách người xưa đo sự no đói của một gia đình.
Chăm sóc và chuyện vệ sinh
- Đậy nắp: chum nước phải có nắp gỗ hoặc nắp tôn, không thì thành nơi muỗi đẻ trứng. Bọ gậy trong chum là chuyện quen ở nông thôn.
- Thả cá: nhiều nhà thả vài con cá bảy màu, cá rô vào bể nước để ăn bọ gậy.
- Thau chum: định kỳ đổ hết nước, cọ rêu đáy, phơi nắng rồi mới hứng lại.
- Lót gạch, kê đá: chum đặt trên nền gạch, tránh ẩm mục chân và dễ cọ rửa.
Ngày nay ở những vùng còn trữ nước trong chum, bể, nắp đậy và thau rửa thường xuyên vẫn là cách đơn giản nhất để phòng sốt xuất huyết.
Góc nhìn hôm nay
Nước máy đã về hầu hết các xã, chum nước dần thành đồ trang trí sân vườn, quán cà phê, homestay. Làng Phù Lãng, Hương Canh vẫn còn lò làm gốm; muốn xem người thợ vuốt một chiếc chum lớn bằng tay có thể đến thăm vào ngày thường. Giếng làng cổ còn ở nhiều làng Bắc Bộ như Đường Lâm (Hà Nội), nơi giếng đá ong được giữ như một phần di tích.
Nếu nhà còn chum vại cũ, đừng vội bán. Một chiếc vại sành tốt vẫn muối dưa ngon hơn hũ nhựa, và chiếc chum đặt ở góc sân là chỗ để kể cho con cháu nghe chuyện hứng nước mưa ngày xưa.
Câu hỏi thường gặp
Chum và vại khác nhau thế nào?
Chum thường to, bụng phình, miệng nhỏ hơn thân, dùng chứa nước, đựng gạo, ủ tương. Vại thân thẳng hơn, miệng rộng, quen dùng muối dưa, muối cà.
Lu da bò là gì?
Lu da bò là loại lu sành màu nâu vàng loang của miền Nam, làm nhiều ở Biên Hoà, Lái Thiêu, dùng chứa nước mưa, nước sông lắng phèn. Tên gọi đến từ màu men giống da con bò.
Vì sao người xưa hứng nước mưa vào chum?
Ở nhiều vùng, nước giếng nhiễm phèn, mặn hoặc có mùi nên nước mưa được quý để nấu ăn, pha trà. Họ hứng từ mái ngói qua máng hoặc từ tàu cau buộc vào thân cây.
Lắng phèn có làm nước sạch không?
Phèn chua chỉ làm bùn đất kết lại và lắng xuống cho nước trong, không diệt vi khuẩn. Nước lắng phèn vẫn phải đun sôi trước khi uống.
Làng nào làm chum vại nổi tiếng?
Miền Bắc có Phù Lãng, Hương Canh, Thổ Hà; miền Nam có Biên Hoà và Lái Thiêu. Một số làng vẫn còn lò gốm hoạt động và đón khách tham quan.