Đôi quang gánh gồm một chiếc đòn gánh bằng tre và hai chiếc quang (dây treo) móc hai thúng, hai sọt hoặc hai nồi ở hai đầu — công cụ mang vác cơ bản nhất của người Việt suốt nhiều thế kỷ. Với đôi quang gánh, người nông dân gánh lúa, gánh nước, gánh phân, còn người bán hàng rong gánh cả một "cửa hàng" đi khắp phố. Hình ảnh người phụ nữ đội nón lá, gánh hàng bước nhịp nhàng trên phố là một trong những biểu tượng đời sống Việt quen thuộc nhất.
Cấu tạo một đôi quang gánh
| Bộ phận | Vật liệu | Ghi chú |
|---|---|---|
| Đòn gánh | Tre già, vót dẹt, hai đầu có mấu chặn | Dẻo, đàn hồi theo nhịp bước |
| Quang | Mây, tre, dây thừng, sau này dây thép | Bốn dây hoặc vòng treo, móc vào đầu đòn |
| Thúng, sọt, mủng | Tre đan, có khi trát sơn hoặc nhựa | Đựng hàng |
| Mẹt, nia | Tre đan, đặt trên thúng | Bày hàng khi dừng bán |
Đòn gánh tốt phải dẻo: khi gánh nặng, đòn cong xuống và nhún theo bước chân, giúp người gánh đỡ mỏi. Người gánh giỏi đi theo nhịp, lắc nhẹ vai, đổi vai liên tục mà hàng không đổ. Người lần đầu gánh thường bị đòn cấn vai, đau rát, hàng lắc lư lệch một bên.
Gánh hàng rong: một cửa hàng di động
Trên đôi quang gánh, người bán mang theo cả cửa hàng: nồi bún, nồi phở, thúng xôi, mẹt hoa quả, sọt hoa, rổ rau, chồng bánh đa. Có gánh phở kèm cả bếp than nhỏ, nồi nước dùng, bát đũa, ghế con. Đến chỗ quen, người bán đặt gánh xuống, bày mẹt, ngồi trên chiếc ghế thấp chờ khách. Bán xong lại gánh đi.
- Gánh phở, gánh bún: từng phổ biến ở Hà Nội trước khi phở có quán cố định.
- Gánh hoa: hoa sen, hoa loa kèn, hoa sấu, hoa cúc theo mùa — hình ảnh lãng mạn của phố Hà Nội.
- Gánh hoa quả: cam, bưởi, nhãn, vải, ổi theo mùa.
- Gánh chè, gánh xôi: buổi sáng, buổi chiều.
- Gánh hàng xén: kim chỉ, xà phòng, đồ lặt vặt.
Ở Hà Nội, phở gánh có lịch sử lâu đời: những thập niên đầu thế kỷ 20, phở được bán chủ yếu bằng gánh trước khi có quán. Vũ Bằng và Thạch Lam đều có những trang viết về hàng phở gánh, quà gánh của Hà Nội cũ.
Đòn gánh trên vai phụ nữ
Gánh nặng chủ yếu đặt trên vai người phụ nữ. Ở làng quê, phụ nữ gánh lúa từ đồng về, gánh nước từ giếng, gánh hàng đi chợ phiên. Ở thành phố, phụ nữ ven đô gánh hàng vào phố từ tờ mờ sáng. Một gánh hàng có thể nặng vài chục ký, đi bộ hàng chục cây số mỗi ngày. Đôi vai chai sần, dáng đi hơi nghiêng của người gánh hàng lâu năm là dấu vết của nghề.
Văn học và hội hoạ Việt Nam có rất nhiều tác phẩm về người phụ nữ gánh hàng: tranh của các hoạ sĩ vẽ phố Hà Nội, những bài thơ về mẹ gánh hàng nuôi con, những tấm ảnh người bán hàng rong được du khách nước ngoài chụp lại. Hình ảnh ấy đẹp trong nghệ thuật nhưng nặng nhọc trong đời thật.
Từ quang gánh sang xe đạp, xe đẩy
Từ nửa sau thế kỷ 20, nhiều người bán hàng rong chuyển từ quang gánh sang xe đạp thồ, xe đẩy, rồi xe máy. Xe chở được nhiều hơn, đi xa hơn, đỡ mỏi vai. Quang gánh còn lại ở nông thôn, ở các chợ quê và một số người bán hàng rong ở phố cổ. Ở Hà Nội, hình ảnh người bán hàng rong với quang gánh vẫn xuất hiện ở khu phố cổ, quanh hồ Hoàn Kiếm, và nhiều du khách tìm đến để chụp ảnh — đôi khi cả "thuê" gánh để chụp, điều khiến không ít người bán cảm thấy khó xử.
Những nghề làm ra đôi quang gánh
Đôi quang gánh là sản phẩm của nhiều nghề thủ công: thợ vót đòn gánh từ tre già, thợ đan thúng, mủng, nia, sọt ở các làng mây tre đan; thợ bện quang bằng mây. Các làng nghề mây tre đan như Phú Vinh (Chương Mỹ, Hà Nội), Ninh Sở (Thường Tín, Hà Nội), và nhiều làng ở Thái Bình, Hưng Yên từng cung cấp thúng mủng cho cả vùng. Một đôi quang gánh tốt có thể dùng nhiều năm.
Đôi quang gánh trong lời ăn tiếng nói
- Gánh vác: nhận trách nhiệm nặng nề.
- Gánh nặng: điều phải chịu đựng, lo toan.
- Gánh hát: đoàn hát rong, mang đồ nghề bằng quang gánh đi diễn khắp nơi (gánh hát cải lương, gánh tuồng).
- Một nắng hai sương: vất vả từ sáng sớm tới tối, hay dùng nói về người gánh hàng, làm đồng.
Góc nhìn hôm nay
Đôi quang gánh không còn là công cụ chính, nhưng vẫn là một phần văn hoá. Khi gặp người bán hàng rong với gánh hàng, mua một món nhỏ thay vì chỉ chụp ảnh là cách tôn trọng công việc của họ. Còn với trẻ con, thử gánh một đôi thúng nhỏ trong sân (với vài cân rau hoặc nước) là một bài học sinh động: chỉ vài bước đầu là hiểu vì sao bà, mẹ ngày xưa phải đi theo nhịp, và vì sao những đôi vai ấy đáng được nhớ.
Câu hỏi thường gặp
Quang gánh gồm những gì?
Quang gánh gồm một chiếc đòn gánh bằng tre, hai chiếc quang (dây treo) bằng mây, tre hoặc dây thừng, móc hai thúng, sọt hoặc nồi ở hai đầu đòn.
Vì sao đòn gánh phải dẻo?
Đòn dẻo cong xuống và nhún theo bước chân, giảm lực dồn lên vai và giúp người gánh đi theo nhịp đỡ mỏi hơn.
Phở gánh là gì?
Phở gánh là phở bán rong bằng quang gánh, một đầu là nồi nước dùng trên bếp than, đầu kia là bánh phở, thịt, bát đũa. Đây là cách bán phở phổ biến ở Hà Nội đầu thế kỷ 20.
Gánh hát nghĩa là gì?
Gánh hát là đoàn hát rong như cải lương, tuồng, mang đồ nghề bằng quang gánh đi diễn khắp nơi. Về sau chữ "gánh" được dùng chỉ đoàn hát nói chung.
Làng nào làm thúng mủng nổi tiếng?
Ở Hà Nội có các làng mây tre đan như Phú Vinh (Chương Mỹ), Ninh Sở (Thường Tín), cùng nhiều làng ở Thái Bình, Hưng Yên.