Quen ThuộcWiki
Tìm
Gian bếp ngày cũ

Bếp củi, bếp rơm và ba ông đầu rau trong gian bếp Việt xưa

Bếp xưa chỉ là ba ông đầu rau bằng đất kê nồi, đun rơm rạ, củi, trấu. Từ đó có tích Táo quân Trọng Cao, Thị Nhi, Phạm Lang và tục cúng ông Táo 23 tháng Chạp.

Bếp củi, bếp rơm và ba ông đầu rau trong gian bếp Việt xưa

Bếp củi, bếp rơm của nhà Việt xưa đơn giản tới mức chỉ gồm ba hòn đất nặn hoặc ba viên gạch kê thành kiềng, gọi là ba ông đầu rau. Lửa đun bằng rơm rạ, lá khô, củi, trấu; nồi đặt lên ba ông đầu rau, khói bay lên ám đen mái bếp. Từ ba hòn đất ấy mà có tích Táo quân, vị thần bếp được tiễn về trời mỗi năm ngày 23 tháng Chạp.

Ba ông đầu rau là gì

Đầu rau là những khối đất sét nặn hình hơi cong, nung qua hoặc phơi khô, đặt thành hình tam giác trên nền bếp. Ba khối đất ấy đỡ nồi niêu, chừa khoảng trống ở giữa để đút củi, rơm vào. Có nơi dùng ba hòn gạch, ba hòn đá. Sau này có kiềng sắt ba chân thay thế, nhưng người ta vẫn quen gọi là "ba ông đầu rau".

Bếp như vậy thường đặt ngay trên nền đất của gian bếp, cạnh vách. Không có ống khói; khói theo mái rạ thoát ra ngoài, ám đen kèo cột. Gian bếp luôn có mùi khói — mùi mà nhiều người đi xa nhớ nhất khi nghĩ tới quê.

Tích Táo quân: hai ông một bà

Truyện cổ kể rằng có người đàn ông tên Trọng Cao và vợ là Thị Nhi. Vì giận chồng, Thị Nhi bỏ đi rồi lấy Phạm Lang. Trọng Cao hối hận đi tìm vợ, đến nhà Phạm Lang thì đói lả. Thị Nhi nhận ra chồng cũ, đem cơm cho ăn; Phạm Lang về, Thị Nhi giấu Trọng Cao vào đống rơm. Phạm Lang đốt đống rơm lấy tro bón ruộng, Trọng Cao chết cháy. Thị Nhi nhảy vào lửa chết theo, Phạm Lang cũng nhảy vào. Thượng đế thương tình phong cả ba làm thần bếp: hai ông một bà, thành ba ông đầu rau.

Truyện có nhiều dị bản, nhưng cốt lõi giống nhau. Từ tích ấy có tục cúng ông Công ông Táo ngày 23 tháng Chạp: mâm cúng, mũ ông Công, và cá chép (sống hoặc giấy) để Táo cưỡi về trời báo cáo chuyện nhà cả năm với Ngọc Hoàng.

Nhóm bếp rơm: một kỹ năng thật

Nghe thì dễ, nhưng đun bếp rơm cần tay nghề. Rơm cháy nhanh, phải liên tục vặn rơm thành nùi, đút vào bếp, vừa đủ để lửa đều. Đút nhiều quá thì lửa bùng rồi tắt, khói mù mịt; đút ít thì nồi không sôi. Trẻ con ở quê được giao trông bếp từ năm, sáu tuổi, ngồi trên cái ghế con, mặt đỏ bừng, tay cầm que cời.

Chất đốtĐặc điểmHay dùng khi
Rơm rạCháy nhanh, nhiều khói, phải trông liên tụcNấu cơm, luộc rau hằng ngày ở đồng bằng
CủiCháy lâu, than giữ nhiệt tốtNấu bánh chưng, kho cá, nấu cám lợn
Lá khô, lá treBén lửa nhanhMồi lửa, nấu nhanh
TrấuCháy âm ỉ, cần bếp trấu riêngVùng nhiều lúa, ủ nồi lâu
Mùn cưa, lõi ngôTận dụngGần xưởng gỗ, vùng trồng ngô

Gian bếp như một căn phòng sinh hoạt

Ở nông thôn Bắc Bộ, gian bếp thường là một căn nhà nhỏ riêng, cạnh nhà chính. Mùa đông, cả nhà ngồi quanh bếp lửa vừa nấu vừa sưởi, nướng củ khoai, bắp ngô vùi tro. Bà kể chuyện, mẹ nấu cơm, bố đan rổ. Nhiều nhà văn đã viết về bếp lửa như một trung tâm của gia đình; bài thơ "Bếp lửa" của Bằng Việt (1963) với hình ảnh người bà nhóm lửa là bài học quen thuộc của nhiều thế hệ học sinh.

Gian bếp cũng có những vật dụng đi kèm: que cời bằng sắt hoặc tre, ống thổi lửa bằng ống nứa, cái chổi rơm quét tro, rổ đựng tro để bón rau hoặc rửa bát. Tro bếp là chất tẩy rửa thông dụng nhất — xoong nồi cọ bằng tro và xơ mướp.

Cái giá của khói bếp

Khói bếp gợi nhớ, nhưng cũng có thật những hại sức khoẻ. Đun nấu bằng rơm, củi trong gian bếp kín không có ống khói khiến người nấu, thường là phụ nữ và trẻ em, hít bụi mịn và khí độc hằng ngày. Tổ chức Y tế Thế giới coi ô nhiễm không khí trong nhà do đun nấu bằng nhiên liệu rắn là một nguyên nhân lớn gây bệnh hô hấp ở các nước đang phát triển. Bệnh đau mắt, ho kéo dài ở người già nông thôn ngày xưa nhiều phần do khói bếp.

Đó là lý do bếp cải tiến có ống khói, rồi bếp gas, bếp điện được coi là bước tiến lớn ở nông thôn. Hoài niệm bếp rơm không có nghĩa là muốn quay lại.

Góc nhìn hôm nay

Bếp củi vẫn còn ở nhiều vùng núi phía Bắc, nơi đồng bào giữ bếp lửa giữa nhà sàn để sưởi và hun khô thịt, ngô treo trên gác bếp. Ở đồng bằng, nhiều nhà vẫn giữ một bếp củi ngoài sân để nấu bánh chưng ngày Tết hoặc nấu những món cần lửa lâu.

Muốn con cháu hiểu "ba ông đầu rau", ngày 23 tháng Chạp là dịp tốt: kể tích Trọng Cao – Thị Nhi – Phạm Lang, rồi cùng thả cá chép ở ao hồ (đừng thả kèm túi ni lông). Nếu về quê, hãy để trẻ thử nhóm một bếp rơm dưới sự trông chừng của người lớn — chỉ mười phút là trẻ hiểu vì sao bữa cơm ngày xưa tốn công tới vậy.

Câu hỏi thường gặp

Ba ông đầu rau là gì?

Đó là ba khối đất nặn hoặc ba viên gạch đặt thành kiềng để đỡ nồi trên bếp củi, bếp rơm. Theo truyện cổ, đó là hai ông một bà được phong làm thần bếp, tức Táo quân.

Sự tích ông Táo kể gì?

Truyện kể Trọng Cao, vợ cũ là Thị Nhi và chồng sau là Phạm Lang lần lượt chết trong đống rơm cháy vì tình nghĩa với nhau. Thượng đế phong cả ba làm thần bếp, từ đó có tục cúng ông Công ông Táo ngày 23 tháng Chạp.

Vì sao cúng ông Táo bằng cá chép?

Dân gian tin cá chép là phương tiện đưa Táo quân về trời báo cáo với Ngọc Hoàng. Vì vậy người ta cúng cá chép sống rồi thả ra ao hồ, sông.

Đun bếp rơm có hại không?

Đun rơm, củi trong bếp kín không có ống khói làm người nấu hít nhiều khói bụi, gây bệnh hô hấp và đau mắt. Bếp có ống khói, bếp gas, bếp điện an toàn hơn nhiều.

Bài thơ Bếp lửa của ai?

Bài thơ "Bếp lửa" là của nhà thơ Bằng Việt, viết năm 1963, kể về người bà nhóm bếp lửa nuôi cháu. Đây là bài thơ quen thuộc trong sách giáo khoa Ngữ văn.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0888 831 183